Thứ Tư, 22 tháng 2, 2012
Luật sư Vũ Thị Hiên tư vấn luật trên báo Dân Trí: "Thời hạn bị tạm giữ là bao lâu?"
Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012
Luật sư Trần Thị Thúy Hằng tư vấn luật trên báo Dân Trí: "Tôi phải làm thủ tục gì để sang tên chính chủ ngôi nhà? "
(Dân Trí) - Bố mẹ tôi chia tay nhau, năm 1995 bố tôi lập gia đình. Năm 2008, tôi mua lại mảnh đất của bố tôi. Đến khi làm thủ tục sang tên sổ đỏ, vợ hai của bố tôi không ký giấy tờ. Tôi phải làm thủ tục gì để sang tên chính chủ ngôi nhà? (Gia Minh, Email: giaminh123@gmail.com).
Theo dữ kiện từ câu hỏi của bạn chúng tôi hiểu mảnh đất mà bạn đang muốn mua lại là mảnh đất của bố bạn được Tòa án chia cho năm 1994 khi ly hôn với mẹ bạn. Năm 1995 bố bạn kết hôn với người khác, theo quy định tại khoản 1điều 27 Luật Hôn nhân gia đình thì tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung vợ chồng, cụ thể: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận”.
Như vậy mảnh đất này hình thành trong thời kỳ hôn nhân với mẹ bạn, sau khi ly hôn đã được chia cho bố bạn và sau đó bố bạn mới kết hôn với người khác, do đó đây được xác định là tài sản riêng của bố bạn (Tài sản hình thành trước thời kỳ hôn nhân với người vợ thứ hai).
Tuy nhiên bạn không nói rõ năm 2008 khi tách sổ đỏ (theo dữ kiện bạn nêu chúng tôi hiểu là cấp Giấy chứng nhận (sổ đỏ) riêng cho phần đất của mỗi người được chia theo bản án) thì bố bạn làm thủ tục xin cấp sổ như thế nào? Trên Giấy chứng nhận ghi tên một mình bố bạn hay cả bố bạn và người vợ sau.
- Trường hợp nếu Sổ đỏ đứng tên cả hai người thì căn cứ theo quy định tại khoản 1 điều 27 nêu trên thì có nghĩa là bố bạn đã nhập khối tài sản riêng thành tài sản chung của bố bạn và người vợ thứ hai. Như vậy mảnh đất trở thành tài sản chung vợ chồng do đó khi định đoạt (mua bán, chuyển nhượng, tặng cho…) phải được sự đồng ý của cả bố bạn và người vợ sau.
- Trường hợp bố bạn xin cấp Sổ đỏ cho riêng 1 mình căn cứ theo quyết định của Bản án năm 1994 và Cơ quan có thẩm quyền đã cấp sổ đứng tên 1 mình bố bạn: Mặc dù năm 2008 (trong thời kỳ hôn nhân với người vợ sau) bố bạn mới được cấp sổ đỏ nhưng mảnh đất này đã có trước thời kỳ hôn nhân (với người vợ sau) mà bố bạn không có thỏa thuận nhập vào tài sản chung vợ chồng, không có văn bản thỏa thuận cho người vợ sau là đồng sở hữu thì vẫn được xác định là tài sản riêng. Do vậy bố bạn có quyền tự định đoạt mà không cần phải có sự đồng ý của người vợ.
Tuy nhiên khi đi làm thủ tục chuyển nhượng, mua bán… vì trên sổ đỏ ghi nhận năm cấp là 2008 (là trong thời kỳ hôn nhân) và không ghi thời điểm hình thành tài sản cũng như nguồn gốc nên bên thứ ba (như cơ quan công chứng…) không thể biết và thông thường các cơ quan sẽ căn cứ vào ngày cấp Giấy chứng nhận để xác định tài sản có phải của vợ chồng hay không. Do đó các Cơ quan công chứng không thể làm thủ tục cho bố bạn tự định đoạt một mình được.
Vì vậy để bố bạn có thể làm thủ tục chuyển nhượng mảnh đất mà không cần có ý kiến của người vợ sau (trường hợp không nhập thành tài sản chung vợ chồng), bố bạn có thể xuất trình kèm theo Bản án, Quyết định ly hôn có sự phân chia mảnh đất trên cho bố bạn năm 1994. Hoặc bạn có thể liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền đã cấp Giấy chứng nhận để xác định về nguồn gốc mảnh đất và thời điểm hình thành tài sản này của bố bạn để chứng minh đây là tài sản riêng, hình thành trước thời kỳ hôn nhân và không nhập thành tài sản chung vợ chồng.
Luật sư Trần Thị Thúy Hằng
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166
Email: info@luatdaiviet.vn
Website: http://www.luatdaiviet.vn
Thứ Hai, 13 tháng 2, 2012
Luật sư Vũ Hải Lý tư vấn luật trên báo Dân Trí: "Chia tay khi người yêu mang bầu có phạm luật không?" Luật sư Vũ Hải Lý tư vấn luật trên báo Dân Trí: "Chia tay khi người yêu mang bầu có phạm luật không?"
(Dân trí) - Tôi năm nay 20 tuổi, người yêu tôi 18 tuổi. Chúng tôi mới yêu nhau nhưng đã có quan hệ tình cảm “sâu sắc”. Hiện cô ấy đang có bầu, nếu tôi muốn chia tay vào lúc này có phạm tội không? (Khuất Quang Dương, Email: quangduong11111991@yahoo.com).
Vì quan hệ tình cảm của các bạn là tự nguyện, bạn gái của bạn cũng đã đủ 16 tuổi nên bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
Hiện nay, nếu bạn gái bạn vẫn giữ thai và sinh đứa trẻ thì sau này khi đã làm thủ tục khai sinh cho trẻ, bạn gái bạn có quyền khởi kiện đến Tòa án Nhân dân nơi đứa trẻ cư trú để yêu cầu Tòa án xác nhận bạn là cha đứa trẻ. Theo khoản 4 điều 27 Bộ luật tố tụng Dân sự 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
Căn cứ quyết định của bản án có hiệu lực của Tòa án, bạn phải có trách nhiệm cấp dưỡng đối với người con. Việc đăng ký kết hôn là tự nguyện, không có cá nhân, tổ chức nào có thể ép buộc bạn phải tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn với bạn gái bạn nhưng bạn phải có trách nhiệm đối với người con. Nếu hai bạn đều công nhận là con của mình, không có tranh chấp, không muốn tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn thì hai bạn có thể ra Ủy ban Nhân dân xã, phường nơi bạn gái bạn cư trú để làm thủ tục công nhận cha cho con. Căn cứ quyết định công nhận cha cho con Ủy ban Nhân dân sẽ ghi tên bạn trong Giấy khai sinh của người con.
Luật sư Vũ Hải Lý
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166
Email: info@luatdaiviet.vn
Website: http://www.luatdaiviet.vn
Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012
(Dân trí) – Xin cho biết, lời chứng của Chủ tịch UBND xã được quy định tại văn bản nào? Trân trọng cảm ơn! (Lê Đình Hinh, Email: hinhtpubndtlgmail@.com).
Căn cứ khoản 2 Điều 5 Nghị định 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký quy định về thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký như sau:
“Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) có thẩm quyền và trách nhiệm:
a) Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt;
b) Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt.
Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chứng thực các việc theo quy định tại khoản 2 Điều này và đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã”.
Đồng thời Khoản 8 Thông tư 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký quy định về việc từng bước chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng như sau:
“Luật công chứng và Nghị định số 79 đã phân biệt rõ hai loại hoạt động công chứng và chứng thực, theo đó công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; còn Phòng Tư pháp cấp huyện, Uỷ ban nhân cấp xã có thẩm quyền chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính, chứng thực chữ ký”.
Theo đó để tạo điều kiện cho Phòng Tư pháp cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã tập trung thực hiện tốt công tác chứng thực bản sao, chữ ký theo quy định của Nghị định số 79, đồng thời từng bước chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện theo đúng tinh thần của Luật công chứng, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch của cá nhân, tổ chức, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cần thực hiện các biện pháp phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương; căn cứ vào tình hình phát triển của tổ chức hành nghề công chứng để quyết định giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện; trong trường hợp trên địa bàn huyện chưa có tổ chức hành nghề công chứng thì người tham gia hợp đồng, giao dịch được lựa chọn công chứng của tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn khác hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã theo quy định của pháp luật.
Hiện nay trên địa bàn thành phố Hà Nội, theo Quyết định số 5434/QĐ-UBND ngày21/10/2009 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, Công văn số 3504/STP-BTTP ngày 28/9/2011 của Sở Tư pháp thành phố Hà Nội, các Ủy ban Nhân dân xã, phường, thị trấn thuộc địa bàn thành phố Hà Nội chấm dứt việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản đồng thời hướng dẫn người dân đến các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn thành phố để thực hiện công chứng theo quy định.
Luật sư Vũ Hải Lý
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166
Email: info@luatdaiviet.vn
Website: http://www.luatdaiviet.vn
Thứ Năm, 9 tháng 2, 2012
Luật sư Vũ Hải Lý tư vấn luật trên báo Dân Trí: "Chia thừa kế khi mẹ không để lại di chúc?"
(Dân trí) - Mẹ tôi mất năm 2002, tài sản để lại gồm: đất ở, đất vườn, đất rau màu và đất trồng lúa. Trong đó, phần đất trồng lúa em út của tôi đang sử dụng. Vậy có thể dùng tất cả tài sản trên để chia thừa kế cho 4 người con của mẹ tôi không? Chân thành cảm ơn! (Nguyễn Thanh Long, Email: nthanhlong17@yahoo.com.vn).
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật được quy định tại ,điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".
Vì mẹ bạn mất năm 2002, bạn không cung cấp ngày tháng mẹ bạn mất nên chúng tôi không tính được cụ thể ngày tháng nào của năm 2012 là hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế.
Theo điểm a khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”.
Như vậy, nếu còn thời hiệu yêu cầu chia thừa kế bạn có thể khởi kiện đến Tòa án nơi có bất động sản để được giải quyết đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mẹ bạn. Tài sản thuộc quyền sở hữu của mẹ bạn về nguyên tắc sẽ được chia đều cho 4 người con, chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, con nuôi, con riêng (nếu có). Những người đang quản lý sử dụng phải bàn giao lại diện tích đang chiếm hữu cho người được tòa án giao.
Trong trường hợp 4 người con không có tranh chấp, bạn có thể liên hệ với Văn phòng, phòng công chứng nơi có bất động sản để làm thủ tục khai nhận và phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.
Vì mẹ bạn mất năm 2002, bạn không cung cấp ngày tháng mẹ bạn mất nên chúng tôi không tính được cụ thể ngày tháng nào của năm 2012 là hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế.
Theo điểm a khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”.
Như vậy, nếu còn thời hiệu yêu cầu chia thừa kế bạn có thể khởi kiện đến Tòa án nơi có bất động sản để được giải quyết đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mẹ bạn. Tài sản thuộc quyền sở hữu của mẹ bạn về nguyên tắc sẽ được chia đều cho 4 người con, chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, con nuôi, con riêng (nếu có). Những người đang quản lý sử dụng phải bàn giao lại diện tích đang chiếm hữu cho người được tòa án giao.
Trong trường hợp 4 người con không có tranh chấp, bạn có thể liên hệ với Văn phòng, phòng công chứng nơi có bất động sản để làm thủ tục khai nhận và phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.
Luật sư Vũ Hải Lý
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166
Email: info@luatdaiviet.vn
Website: http://www.luatdaiviet.vn
Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012
Luật sư Ngô Thị Lựu tư vấn luật trên báo Dân Trí: "Mức xử phạt đối với doanh nghiệp trốn đóng BHXH?"
(Dân Trí) - Tôi đang làm việc trong một công ty tư nhân, để tiết kiệm tiền công ty không đóng BHXH cho chúng tôi đúng theo mức lương thực lãnh mà đóng theo mức lương cơ bản của nhà nước, như vậy có vi phạm không, mức xử phạt thế nào?
Tại khoản 2 Điều 94 Luật Bảo hiểm xã hội quy định: “Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động”. Do đó, cơ quan Bảo hiểm xã hội chỉ căn cứ vào mức tiền công, tiền lương trong Hợp đồng lao động để tính mức đóng hàng tháng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động tại đơn vị đó.
Tại Điều 27 Bộ Luật Lao động quy định: “Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”.
Trong trường hợp nếu các bạn chứng minh người sử dụng lao động có hành vi lừa dối, ép buộc người lao động trong việc ký hợp đồng lao động, các bạn có quyền tố cáo ra cơ quan Công an về hành vi đó.
Luật sư Ngô Thị Lựu
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166
Email: info@luatdaiviet.vn
Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế
Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế
(Dân trí) - Ông bà tôi sinh được 5 người con: Chị cả đầu, đến bố tôi và sau đó là 2 em trai và một em gái của bố tôi, tất cả mọi người đã có gia đình.
Một người em trai út của bố tôi lập gia đình thì ông bà mua đất làm nhà riêng nhưng nay đã bán đi và vào Nam lập nghiệp. Còn người em trai còn lại của bố tôi thì khi lập gia đình thì có nhà vợ cho đất làm nhà, còn mảnh đất ông bà tôi ở thì bố tôi có chăm sóc ông bà và làm nhà cho ông bà ở. Nay, ông bà tôi đã mất nhưng không để lại Di chúc là cho ai. Sổ đỏ mang tên ông bà tôi chú tôi cầm và đòi chia mảnh đất đó làm 3: Ông bà 1 phần, bố tôi một phần, chú tôi một phần.
Hiện ngôi nhà vẫn để không chưa có ai ở, gia đình tôi đã di cư đi làm ăn xa, khi ông bà mất thì chú tôi có đòi tiền nhưng nhà tôi không đưa thì chú tôi có bảo cầm sổ lương của bố mẹ tôi, lương của 2 sổ lúc đó là khoảng 650.000đ thời điểm năm 1997, đồng thời còn đào đất ngay ở sân để làm gạch, vì lý do là bố mẹ tôi không đưa tiền chia đất.
Nhưng cho tới nay chú tôi lại đòi chia đất thì nhà tôi nên xử lý như thế nào, và có chia thì chia ra sao? Tôi xin chân thành cảm ơn Quý báo! (Lê Xuân Định, Email: hamatsnt55@gmail.com).
Trả lời:
Theo thông tin bạn trình bày ông bà bạn đã mất trước năm 1997, nên cho đến thời điểm hiện tại đã hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật theo quy định tại điều 645 Bộ luật dân sự, cụ thể: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”
Tuy nhiên nếu “Sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kếkhông có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết.
- Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.
- Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung. (Theo quy định tại mục 2.4 phần I Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/08/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình).
Như vậy, vì tài sản để lại thuộc quyền sở hữu của ông bà bạn, nếu ông bà bạn không để lại di chúc, 5 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông bà không có tranh chấp về hàng thừa kế, đều thống nhất di sản của người chết để lại chưa chia được thể hiện bằng văn bản thì căn nhà và đất mà ông bà bạn để lại chuyển thành tài sản chung của 5 người con và được chia theo quy định của pháp luật, mỗi người được hưởng một phần bằng nhau. Vì chú bạn đã lấy sổ lương và đóng gạch ở sân nên bố của bạn có thể yêu cầu tòa án giải quyết trừ đi kỷ phần chú được hưởng hoặc hoàn trả lại khoản tiền đã nhận (có thể yêu cầu tòa án tính lãi suất để hoàn trả gia đình bạn). Nếu một trong các đồng thừa kế (5 người con) có tranh chấp, không thống nhất được về di sản để lại, hàng thừa kế…thì không thể yêu cầu chia tài sản chung được và ai quản lý vẫn tiếp tục được quản lý.
Trong trường hợp tất cả các đồng thừa kế đều thống nhất về cách chia tài sản, không có tranh chấp thì họ có thể liên hệ với tổ chức hành nghề công chứng để tiến hành khai nhận và phân chia di sản thừa kế theo quy định tại điều 49, 50 Luật Công chứng năm 2006.
Luật sư Vũ Hải Lý
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166
Email: info@luatdaiviet.vn
Website: http://www.luatdaiviet.vn
Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012
Tư vấn thành lập doanh nghiệp
Luật Đại Việt cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm tư vấn thành lập doanh nghiệp, tổ chức và hoạt động doanh nghiệp, tổ chức lại, mua lại và sáp nhập, giải thể/ phá sản doanh nghiệp… Cụ thể,Luật Đại Việt cung cấp các dịch vụ sau:
Tư vấn và hỗ trợ thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước hoặc nước ngoài tại Việt Nam; tư vấn loại hình doanh nghiệp, phương thức góp vốn, tên doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, các điều kiện được hưởng ưu đãi cho hoạt động của doanh nghiệp…; tư vấn và soạn thảo điều lệ, hợp đồng liên doanh, quy chế nội bộ trong doanh nghiệp; tiến hành đăng ký hoạt động, xin cấp các loại giấy phép con, làm dấu, xin cấp mã số thuế cho doanh nghiệp.
Luật Đại Việt sẽ đồng hành cùng ý tưởng kinh doanh của khách hàng cho đến khi doanh nghiệp đi vào hoạt động với những điều kiện ưu đãi nhất trên cơ sở phù hợp với pháp luật hiện hành của Việt Nam; tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp mở chi nhánh, văn phòng đại diện; xin cấp mã vạch sản phẩm, đăng ký dược phẩm, công bố chất lượng sản phẩm…
Tư vấn và hỗ trợ thành lập doanh nghiệp có vốn Việt Nam tại nước ngoài cũng như mở chi nhánh,văn phòng đại diện của doanh nghiệp Việt Nam tại nước ngoài.
Tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh; đại diện cho doanh nghiệp đàm phán, ký kết các hợp đồng với đối tác;
Đại diện và bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp trong quá trình giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cung cấp các dịch vụ pháp lý liên quan đến tổ chức lại doanh nghiệp, từ thay đổi cơ cấu vốn góp, thành viên góp vốn, chia, tách cho đến chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.
Cung cấp các dịch vụ pháp lý liên quan đến mua l ại và sáp nhập (M&A) doanh nghiệp; tìm kiếm đối tác M&A, xác định giá trị doanh nghiệp, xác minh tình trạng pháp lý (due diligence), soạn thảo và ký kết hợp đồng M&A, giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng, trong đó bao gồm các vấn đề tài chính, kế toán, lao động và quản lý doanh nghiệp.
Cung cấp dịch vụ pháp lý liên quan đến chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp dưới hình thức giải thể hoặc phá sản.
Khi thực hiện dịch vụ của Luật Đại Việt Quý khách hàng sẽ được:
- Luật Đại Việt sẽ công chứng ủy quyền toàn bộ việc thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp bao gồm: lấy giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và con dấu pháp nhân, nhận giấy chứng nhận ĐKDN, sẽ hạn chế việc đi lại của quý khách hàng
- Tư vấn miễn phí qua hotline:0933.668.166
- Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím 4-5
Để được tư vấn cụ thể quý khách liên hệ với chúng tôi:
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẠI VIỆT-VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG ĐẠI VIỆT
Địa chỉ : Số 335 Phố Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tel: (04)37478888 Fax: (04)37473966
Hot-line: 0933.668.166
Email: info@luatdaiviet.vn
Website:www.luatdaiviet.vn
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)